CT đánh giá vôi hóa ở động mạch vành

CT lớp can-xi ở động mạch vành – Cẩm nang dành cho người bệnh

 

 

THẾ NÀO LÀ CT ĐÁNH GIÁ VÔI HÓA Ở ĐỘNG MẠCH VÀNH?

 

Phương pháp này đo lượng can-xi ở thành động mạch vành – là các động mạch cung cấp máu cho tim. Các bác sĩ tim mạch thường sử dụng những bản CT này để xác định mức độ vôi hóa trong động mạch vành.

 

Bệnh động mạch vành là nguyên nhân hàng đầu gây ra các cơn đau tim. Bệnh động mạch vành xảy ra khi mảng bám tích tụ và thu hẹp động mạch của bệnh nhân (gọi là xơ vữa động mạch). Các mảng bám thường là do tích tụ chất béo, cholesterol và canxi. Phương pháp CT này có thể đánh giá vôi hóa ở động mạch vành. Lượng canxi có thể được dùng để tính điểm (gọi là điểm vôi hóa mạch vành), khi kết hợp điểm này với các thông tin sức khỏe khác sẽ giúp xác định nguy cơ mắc bệnh động mạch vành hoặc đau tim trong tương lai.

 

Điểm vôi hóa mạch vành cao có thể chỉ ra rằng bệnh nhân nguy cơ nhồi máu cơ tim cao hơn trước khi có bất kỳ triệu chứng rõ ràng nào về bệnh tim.

 

LÀM THẾ NÀO ĐỂ CHỤP CT ĐÁNH GIÁ VÔI HÓA MẠCH VÀNH VÀ RỦI RO CỦA PHƯƠNG PHÁP NÀY LÀ GÌ?

 

Chụp CT vôi hóa mạch vành không cần bước chuẩn bị. Không tiêm thuốc và bệnh nhân không cần phải nhanh. Quá trình quét CT mất khoảng 5 phút. Nguy cơ duy nhất cho bệnh nhân là tiếp xúc với bức xạ.

 

AI NÊN CẦN CHỤP CT ĐÁNH GIÁ VÔI HÓA MẠCH VÀNH?

 

Đàn ông (> 45 tuổi) hoặc phụ nữ (> 55 tuổi) có ít nhất một trong các yếu tố nguy cơ (tiền sử bệnh tim của gia đình, nồng độ cholesterol cao, huyết áp cao, hút thuốc hoặc tiểu đường) có thể xem xét việc quét mạch vành để đánh giá mức độ vôi hóa.

 

Nếu điểm vôi hóa mạch vành của bạn cao, thì bạn cần quan tâm hơn đến việc giảm thiểu các yếu tố gây nhồi máu cơ tim, chẳng hạn như thay đổi lối sống hoặc sử dụng thuốc điều trị nếu cần thiết.

Đo độ dày lớp trong và lớp giữa của thành động mạch cảnh (TMT)

LỚP TRONG VÀ LỚP GIỮA CỦA THÀNH ĐỘNG MẠCH CẢNH (IMT) LÀ GÌ?

 

Động mạch cảnh được tìm thấy ở cổ và cung cấp máu cho não. Những động mạch này lớn và nằm ngay dưới da, dễ dàng nhìn thấy qua siêu âm.

 

Lớp áo trong và lớp áo giữa là các lớp lót cho động mạch. Khi tuổi tác ngày càng cao và với sự hiện diện của các yếu tố nguy cơ nhất định (chẳng hạn như nồng độ cholesterol cao, huyết áp cao, hút thuốc lá, béo phì, tiểu đường) cholesterol sẽ lắng đọng trong các lớp này. Điều này làm tăng độ dày của các lớp bên trong, dẫn đến việc mạch máu co hẹp lại hoặc thậm chí tắc nghẽn hoàn toàn. Các lớp áo động mạch dày lên cũng dẫn đến tăng nguy cơ máu đông thành cục mạch dẫn.

 

Những thay đổi trong động mạch cảnh phản ánh những thay đổi trong các động mạch khác được tìm thấy trong nhiều cơ quan khác nhau. Hiện tại rất khó nhìn thấy các động mạch tim mà không cần các xét nghiệm phức tạp. Do đó, việc đo lớp áo trong và lớp áo giữa của động mạch cảnh là một cách dễ dàng và an toàn để nhận biết trạng thái sức khỏe của các động mạch khắp cơ thể.

 

ĐỘ DÀY BAO NHIÊU LÀ BÌNH THƯỜNG?

 

Trong nhiều nghiên cứu, lớp IMT động mạch cảnh đã được chứng minh là một yếu tố dự báo cho các cơn đau tim và đột quỵ trong tương lai. Chỉ cần độ dày tăng 0,1 mm thì nguy cơ mắc các bệnh này tăng lên đến 11%. Đặc biệt, độ dày lớn hơn 1 mm sẽ làm tăng gấp đôi nguy cơ bị đau tim hoặc đột quỵ trong vòng 6 năm tới.

 

Những người không có tiền sử bệnh tim nhưng khi biết lớp TMT đã dày thêm sẽ được điều trị tích cực nhằm giảm các nguy cơ mắc bệnh đột quỵ và đau tim.

 

CÁCH THỨC TIẾN HÀNH ĐO IMT?

 

Siêu âm là một kỹ thuật chụp ảnh an toàn không sử dụng bức xạ. Bệnh nhân được yêu cầu nằm xuống và thoa một loại gel không màu lên cổ. Một máy quét được sử dụng sẽ tạo áp lực vừa phải trên cổ. Máy quét sẽ từ từ được đưa lên và xuống cổ để quét toàn bộ chiều dài của động mạch cảnh. Độ dày của các lớp IMT sẽ được đo, lưu lượng máu đi qua động mạch cũng được đo. Toàn bộ quá trình thường mất ít hơn 20 phút.

Siêu âm tim gắng sức bằng bài tập vận động hoặc dùng thuốc dobutamine

XÉT NGHIỆM GẮNG SỨC – CẨM NANG CHO BỆNH NHÂN

 

XÉT NGHIỆM GẮNG SỨC LÀ GÌ?

 

Người bị tắc nghẽn động mạch tim có thể hầu như không có triệu chứng rõ rệt khi nghỉ ngơi. Tuy nhiên, các triệu chứng tắc nghẽn cơ bản có thể xảy ra trong quá trình dùng sức. Việc tạo áp lực lên tim có thể được thực hiện bằng cách tập thể dục hoặc sử dụng các loại thuốc kích thích tim. Trong khi tập thể dục, các động mạch tim khỏe mạnh sẽ mở rộng để đáp ứng lưu lượng máu tăng lên. Động mạch hẹp không thể chịu được sự gia tăng lưu lượng máu cần thiết trong khi tập thể dục. Điều này làm giảm lưu lượng máu đến cơ tim và dẫn đến cơ tim bị “thiếu hụt” dưỡng khí oxy.

 

Sự “thiếu hụt” này dẫn đến:

 

  1. Các triệu chứng như khó chịu ở ngực hoặc khó thở
  2. Điện tâm đồ bất thường
  3. Giảm co thắt cơ tim được cung cấp do động mạch vành hẹp. Điều này có thể được phát hiện bằng phương pháp siêu âm tim
  4. Giảm chức năng của các tế bào cơ tim. Điều này có thể được phát hiện bởi phương pháp quét nguyên tử hoặc “MIBI”

 

Thay đổi điện tâm đồ trong khi tập thể dục thường có thể cho ra kết quả sai. Khả năng đánh giá sự co thắt tim hoặc chức năng của tế bào cơ tim do đó cho ra kết quả chính xác hơn. Như vậy, việc sử dụng phương pháp quét nguyên tử hoặc siêu âm tim sẽ cho kết quả chính xác hơn so với việc sử dụng các xét nghiệm điện tâm đồ gắng sức kiểu truyền thống.

 

Siêu âm tim có lợi thế là hoàn toàn không gây ra bức xạ. Ngoài ra còn có khả năng đánh giá cấu trúc của tim từ cơ, van và buồng tìm. Các phương pháp xét nghiệm hạt nhân hoặc ECG không thể cho kết quả tương tự.

 

SIÊU ÂM TIM GẮNG SỨC ĐƯỢC THỰC HIỆN NHƯ THẾ NÀO?

 

Một xét nghiệm siêu âm tim gắng sức có thể tiến hành cho một bệnh nhân ngoại trú và không cần nhập viện.

 

Đầu tiên, bệnh nhân cần nằm xuống để thực hiện nghiên cứu ở trạng thái “nghỉ ngơi”. Bước này cung cấp cơ sở cho những xét nghiệm sau, như thế thông tin về kích thước và chức năng của các buồng tim và van tim khác nhau có thể thu thập được. Các điện cực được gắn vào ngực và được nối với dây để ghi lại điện tâm đồ (ECG).

 

Một gel không màu sẽ được thoa lên ngực và bộ chuyển đổi siêu âm được đặt lên trên chỗ đó. Sau đó, bác sĩ tim mạch sẽ di chuyển thiết bị đều khắp ngực để thu thập một số hình ảnh về tim. Bệnh nhân có thể được yêu cầu di chuyển từ phía sau sang bên trái. Bệnh nhân cũng sẽ được yêu cầu thở chậm hoặc giữ hơi thở để có được hình ảnh của tim trực quan hơn.

 

Bệnh nhân sẽ được yêu cầu đi bộ trên máy tập. Trong trường hợp bệnh nhân không thể hoàn thành bài tập ở cường độ cao, thì bác sĩ sẽ truyền thuốc vào mạch ở cánh tay để tạo kích thích lên tim.

 

Giai đoạn ban đầu là giai đoạn khởi động và được thực hiện rất chậm. Tốc độ của máy chạy bộ và độ dốc sau đó được tăng lên sau mỗi ba phút. Máy chạy bộ dừng lại khi bệnh nhân vượt quá 85% nhịp tim mục tiêu (dựa trên độ tuổi của người đó). Các bài vận động có thể dừng lại sớm hơn nếu người đó xuất hiện các triệu chứng như khó chịu ở ngực, khó thở, đuối sức hoặc chóng mặt. Bác sĩ tim mạch sẽ có mặt trong suốt cuộc xét nghiệm và đảm bảo những vấn đề không xảy ra.

 

Ngay sau khi tập với máy chạy bộ, bệnh nhân di chuyển trực tiếp đến giường và nằm ở phía bên trái, khi đó bài kiểm tra siêu âm ngay lập tức được lặp lại.

 

Bằng cách so sánh các hình ảnh lúc nghỉ ngơi với hình ảnh sau khi tập thể dục, bác sĩ tim mạch sẽ tìm ra bất kỳ dấu hiệu bất thường nào trong cách cơ tim co lại để phản ứng với bài thể dục. Thông thường, bài tập sẽ dẫn đến hoạt động co cơ tim tăng lên đáng kể. Nếu hoạt động co của cơ tim bị giảm trong khi tập thể dục, thì một hoặc nhiều động mạch tim có dấu hiệu bị tác nghẽn. Tùy thuộc vào mức độ nghiêm trọng của các dấu hiệu bất thường, bệnh nhân có thể được chỉ định làm thêm xét nghiệm chụp động mạch vành.

 

ĐỘ AN TOÀN CỦA SIÊU ÂM TIM GẮNG SỨC?

 

Không có tác dụng phụ nào được ghi nhận trong quá trình siêu âm tim. Nguy cơ của xét nghiệm gắng sức cũng tương tự như nguy cơ liên quan đến bất kỳ hình thức luyện tập vất vả nào. Bác sĩ tim mạch sẽ có mặt trong suốt cuộc xét nghiệm để kiểm soát biến chứng hiếm gặp nào có thể xảy ra. Những vấn đề này đều có khả năng xảy ra nếu người đó cũng tập luyện với mức độ tương đương như ở nhà hoặc trong một phòng tập thể hình.

 

NHỮNG AI NÊN CÂN NHẮC THỰC HIỆN SIÊU ÂM TIM GẮNG SỨC NÀY?

 

Siêu âm tim gắng sức có khả năng chẩn đoán bệnh ở hơn 85% người bị hẹp động mạch tim đáng kể.

 

Siêu âm tim gắng sức có thể được xem như một xét nghiệm hợp lý trong các tình huống sau:

 

  1. Những người có triệu chứng gần giống với bệnh động mạch vành
  2. Những người có bài xét nghiệm ECG bằng máy chạy bộ không rõ ràng hoặc không có kết luận.
  3. Những người có bệnh tim cần dùng phương pháp này để đánh giá tình hình bệnh
  4. Để đánh giá nguy cơ đau tim cho những người sắp trải qua phẫu thuật lớn
  5. Để đánh giá những người có bất thường về van tim

 

CẦN CHUẨN BỊ GÌ CHO SIÊU ÂM TIM GẮNG SỨC?

 

Siêu âm tim gắng sức là một xét nghiệm ngoại trú và không cần nhập viện. Toàn bộ quy trình mất khoảng 90 phút.

 

Các bước sau cần thực hiện:

 

  1. Không ăn hoặc uống trong ba giờ trước khi tiến hành. Điều này làm giảm khả năng buồn nôn có thể đi kèm với bài tập thể dục nặng sau bữa ăn. Bệnh nhân tiểu đường, đặc biệt là có sử dụng insulin, sẽ cần hướng dẫn đặc biệt từ bác sĩ.
  2. Các loại thuốc tim cụ thể (ví dụ: thuốc chẹn bêta) có thể cần phải ngừng sử dụng trong một hoặc hai ngày trước khi xét nghiệm. Bác sĩ sẽ ghi chú rõ các hướng dẫn này khi có lịch xét nghiệm.
  3. – Mặc quần áo và giày thoải mái, dễ vận động

Chụp cắt lớp vi tính mạch vành và xác định điểm vôi hóa

CHỤP CẮT LỚP VI TÍNH MẠCH VÀNH CÓ CẢN QUANG – CẨM NANG DÀNH CHO BỆNH NHÂN

 

THẾ NÀO LÀ CHỤP CẮT LỚP VI TÍNH MẠCH VÀNH (CTA)?

 

Các cơn đau tim thường xảy ra mà không cần cảnh báo. Để đề phòng những bất trắc như vậy, một công nghệ hình ảnh mới ra đời được gọi là chụp cắt lớp vi tính mạch vành (một loại xét nghiệm bằng tia X chuyên dụng), được sử dụng để quét tim chỉ trong vài phút. Phương pháp có thể phát hiện sự lắng đọng của cholesterol trong động mạch dẫn đến đau tim.

 

Trong quá khứ, xét nghiệm gắng sức là cách thông thường để sàng lọc bệnh tim. Cách duy nhất để nhìn trực tiếp vào động mạch tim là thông qua một thủ thuật gọi là nong mạch vành có xâm lấn (một ống nhỏ được truyền vào cơ thể), thủ thuật này có một phần nguy cơ dẫn các biến chứng nghiêm trọng.

 

Chụp cắt lớp vi tính mạch vành có phản quang là một phương pháp không xâm lấn để cung cấp những hình ảnh trực quan hơn về các động mạch vành chuyên bơm máu cho cơ tim. Nó cho phép bác sĩ tim mạch tìm kiếm những điểm hẹp khó nhận thấy bởi phương pháp xét nghiệm gắng sức theo kiểu truyền thống. Ước tính có tới 3/4 ca đau tim xảy ra ở những điểm hẹp vành có mức độ đánh giá nghiêm trọng thấp hơn 50%. Những điểm thu hẹp này thường sẽ bị bỏ qua bởi các xét nghiệm dùng sức và chỉ có thể thu thập bởi phương pháp CTA có phản. Khi những điểm hẹp vành như vậy được phát hiện, bệnh nhân sẽ được chữa trị kịp thời để ngăn ngừa bệnh đau tim trong tương lai.

 

CÁCH THỰC HIỆN CHỤP CTA CÓ PHẢN QUANG VÀ RỦI RO CỦA PHƯƠNG PHÁP NÀY LÀ GÌ?

 

Những bệnh nhân dùng phương pháp CTA mạch vành có phản quang sẽ được tiêm một loại thuốc có màu tương tự như màu nội tĩnh mạch để đảm bảo hình ảnh mạch vành hiện lên tốt nhất có thể. Một đầu kim rất nhỏ được đặt vào tĩnh mạch cánh tay và tiêm thuốc này vào. Trong một số trường hợp, bệnh nhân cũng sẽ được chỉ định dùng thuốc hạ nhịp tim để hình ảnh chụp rõ ràng hơn. Trong quá trình xét nghiệm khoảng 10 phút, tia X quang sẽ đi qua cơ thể và vào một “máy dò”. Số lượng máy dò càng nhiều thì hình ảnh chụp cắt lớp cuối cùng càng rõ. Thế hệ máy quét mới nhất có thể đạt được 64 “lớp hình ảnh” của trái tim trong một phút.

 

Ở những người dị ứng với thành phần i-ốt có trong thuốc thì các phương pháp tiền xử lý bằng dược phẩm là cần thiết để ngăn ngừa các phản ứng dị ứng. Ở những người có chức năng thận bất thường và / hoặc bệnh tiểu đường, thuốc màu có thể làm giảm chức năng thận. Rủi ro cuối cùng là bệnh nhân sẽ có sự tiếp xúc với bức xạ như khi chụp mạch vành thông thường. Tóm lại, chụp cắt lớp CTA mạch vành là một xét nghiệm rất an toàn cho hầu hết mọi người, nhưng chỉ nên được áp dụng khi bác sĩ đã quen thuộc với bệnh nhân.
NHỮNG AI NÊN CÂN NHẮC XÉT NGHIỆM CHỤP CẮT LỚP VI TÍNH ĐỘNG MẠCH VÀNH CÓ PHẢN QUANG?

 

Mặc dù được xác định là có độ an toàn cao, nhưng phương pháp CTA mạch vành có phản quan không nên được sử dụng làm xét nghiệm “sàng lọc” cho tất cả mọi người.

 

Phương pháp CTA mạch vành có phẩn quang có thể được coi là một xét nghiệm hợp lý cho những trường hợp sau:

 

  1. Ở những người có nguy cơ bị bệnh động mạch vành cao do các yếu tố như hút thuốc lá, nồng độ cholesterol cao, tăng huyết áp, tiểu đường hoặc gia đình có tiền sử bệnh.
  2. Kết quả xét nghiệm gắng sức không rõ ràng hoặc không xác định (thử nghiệm máy chạy bộ).
  3. Những người có triệu chứng của bệnh hẹp động mạch tim.

 

ĐỘ CHÍNH XÁC CỦA CHỤP CẮT LỚP ĐỘNG MẠCH VÀNH CÓ PHẢN QUANG?

 

Nếu kết quả từ chụp CTA mạch vành có phản quang là bình thường hoặc chỉ hơi bất thường, thì khả năng bị hẹp / tắc nghẽn nghiêm trọng trong các động mạch vành cực kỳ nhỏ (<1%).

 

Ngược lại, nếu có điểm hẹp được nhìn thấy trên kết quả CTA mạch vành, xác suất cao là điểm hẹp đó sẽ ảnh hưởng đến chức năng tim hiện tại. Trong những trường hợp như vậy, cần chụp mạch vành có phản quang để đánh giá thêm và có thể ra phác đồ điều trị.

 

Đôi khi sẽ có trường hợp bệnh nhân bị thu hẹp ở mức độ vừa phải. Trong những tình huống như vậy, xét nghiệm gắng sức có vận động có thể thay thế cho chụp CTA mạch vành có phản quang trong việc đưa ra quyết định về cách theo dõi hay chữa trị.

 

PHƯƠNG PHÁP CHỤP CẮT LỚP ĐỘNG MẠCH VÀNH CÓ CẢN QUANG TẠI VIỆN TIM MẠCH NOVENA?

 

Trung tâm Tim mạch Novena sử dụng máy quét CT đa lát hiện đại, thế hệ mới nhất (máy quét CTA 64-bit của Toshiba), máy này có thể thu được 64 lớp hình ảnh của tim trong một phút, cho ra kết quả hình ảnh rất chi tiết về các động mạch vành và tim.
CẦN CHUẨN BỊ GÌ TRƯỚC KHI CHỤP CTA ĐỘNG MẠCH VÀNH CÓ PHẢN QUANG?

 

Chụp cắt lớp động mạch vành có phản quang (CTA) được thực hiện như một xét nghiệm ngoại trú và không cần nhập viện. Toàn bộ quy trình mất khoảng 20 đến 30 phút, bao gồm các bước sau đây:

 

  1. – Không ăn hoặc uống trong 4 giờ trước khi quét. Caffeine (cà phê hoặc trà) nên tránh vì nó có thể gây ra nhịp tim bất thường có thể làm tổn hại đến chất lượng của hình ảnh.
  2. – Một dòng IV được đưa vào tĩnh mạch trong cánh tay, và được sử dụng cả hai để cung cấp cho một loại thuốc làm chậm hoặc ổn định nhịp tim của bệnh nhân để hình ảnh tốt hơn và quản lý một thuốc nhuộm có chứa i-ốt.
  3. – Bệnh nhân được yêu cầu phải nín thở trong 10 đến 12 giây trong khi quét. Điều này là cần thiết để có được hình ảnh chất lượng cao.

Các phương pháp xét nghiệm động mạch vành có cản quang để phát hiện bệnh động mạch vành

CHỤP X QUANG CÓ CẢN QUANG VÀ TẠO HÌNH ĐỘNG MẠCH VÀNH LÀ GÌ?

 

Chụp động mạch vành là quá trình tiêm thuốc cản quang vào các động mạch của tim để cho phép bác sĩ nhìn thấy động mạch trông như thế nào và nơi nào có thể thu hẹp.

 

Tạo hình vành mạch vành (thường được gọi tắt là PTCA hoặc PCI) là một thủ thuật để mở rộng các động mạch tim bị tắc nghẽn hoặc bị hẹp đáng kể. Quy trình này thường bao gồm một vài bước.

  1. Tạo đường xâm nhập vào động mạch dẫn đến tim. Bước này thường liên quan động mạch chân (vùng háng) hoặc động mạch tay (cổ tay). Một ống nhỏ được đặt trong động mạch cho phép đưa vào các thiết bị khác nhau nếu cần thiết.
  2. Thực hiện chụp động mạch. Bác sĩ tiêm thuốc cản quang từ một ống dài (ống thông) được đưa vào từ động mạch chân hoặc tay để mở các động mạch tim. Chụp X quang và ảnh ngay lập tức hiện trên màn hình theo dõi.
  3. Bác sĩ tim mạch có thể đo kích thước, các nhánh và các động mạch của tim. Mức độ nghiêm trọng của chứng hẹp động mạch có thể được suy ra từ những hình ảnh này.
  4. Nếu hẹp động mạch ảnh hưởng nghiêm trọng để sự lưu thông của máu và oxy đến cơ tim, phẫu thuật nong mạch được thực hiện. Bước này thường được thực hiện bằng cách đưa vào một sợi dây (tương tự như độ dày của tóc của bạn) qua vị trí hẹp của mạch. Một quả bóng sau đó được đưa đến chỗ thu hẹp và động mạch mở rộng ra từ từ. Phương pháp phổ biến là đặt một ống thông động mạch (stent) đến khu vực được nong để đảm bảo rằng phần hẹp của động mạch vẫn mở.

 

RỦI RO CỦA THỦ THUẬT NÀY

 

Nhìn chung, rủi ro của các bước thực hiên ở trên không phổ biến. Chụp động mạch có nguy cơ thấp hơn vào khoảng dưới 1% cho tất cả các biến chứng nghiêm trọng. Tuy nhiên, thủ thuật nong mạch có rủi ro cao hơn một chút, bao gồm:

 

  1. Nguy cơ tử vong <1%
  2. Nguy cơ đột quỵ <1%
  3. Nguy cơ đau tim <2%
  4. Biến chứng dẫn đến phẫu thuật bắc cầu khẩn cấp <0,5%
  5. Nhịp tim bất thường đòi hỏi sốc điện để phục hồi nhịp đập bình thường <0.1%
  6. Gây hại cho các động mạch ở háng hoặc cổ tay đòi hỏi phải phẫu thuật sửa chữa <1%
  7. Cần truyền máu <0,5%
  8. Phản ứng dị ứng với thuốc cản quang có thể dẫn đến tử vong <0.1%
  9. Phơi nhiễm bức xạ dẫn đến bỏng hoặc ung thư <0,0003%
  10. Nguy hiểm cho thận do thuốc cản quang thường hiếm gặp ở những người có chức năng thận bình thường.

 

Nong mạch có liên quan đến một nguy cơ nhỏ nhưng đáng để lưu tâm. Quyết định cho nong mạch vành cần được xem xét cẩn thận để đảm bảo rằng mặt lợi lớn hơn rủi ro tiềm ẩn. Các rủi ro cũng thay đổi tùy theo tuổi tác, chức năng tim, các bệnh khác và liệu các thủ thuật được thực hiện trong trường hợp khẩn cấp hay trong môi trường ổn định.

 

BIẾN CHỨNG LÂU DÀI

 

Các rủi ro được đề cập ở trên đề cập đến các biến chứng thường xảy ra trong quá trình thực hiện hoặc ngay sau đó. Tuy nhiên, các vấn đề dài hạn bao gồm:

 

  1. Thu hẹp động mạch tái phát. Hiện tượng này thường xảy ra trong vòng 6 tháng đến một năm sau phẫu thuật. Với ống stent không được tráng, biến chứng này có thể xảy ra trong khoảng 20-30% các ca. Với ống stent bọc thuốc, biến chứng thường xảy ra trong <10% các ca. Thu hẹp động mạch tái phát có thể được điều trị bằng phẫu thuật nong mạch lại.
  2. Sự hình thành cục máu đông trong ống stent động mạch. Đây là biến chứng đề rất nghiêm trọng vì cục máu đông hình thành trong ống stent có thể gây tắc nghẽn toàn bộ động mạch và dẫn đến nhồi máu cơ tim. Biến chứng này thường xảy ra trong tháng đầu tiên sau khi chèn stent và xảy ra trong <1% các ca. Các cục máu đông hình thành sau một tháng là rất hiếm sau khi đặt một stent không phủ thuốc. Tuy nhiên, các ống stent phủ thuốc cũng có nguy cơ từ 0,5% đến 0,6% hình thành máu đông đến 4 năm sau khi chèn.

 

Việc lựa chọn sử dụng stent phủ thuốc hay không phủ thuốc nên được thảo luận dựa trên các yếu tố cá nhân và sở thích của bệnh nhân.

 

LIỆU PHÁO THAY THẾ

 

Phẫu thuật bắc cầu nối động mạch (CABG) có thể được coi là phương pháp thay thế cho nong mạch vành. Tuy nhiên, CABG đòi hỏi thời gian hồi phục lâu hơn đáng kể so với nong mạch vành. CABG có thể thích hợp hơn đối với một số bệnh nhân nhất định, bao gồm những người bị hẹp động mạch đa điểm, hẹp động mạch cảnh bên trái (động mạch tim chính) và tiểu đường.

 

Chăm sóc y tế hoặc dùng thuốc uống cũng là cách thay thế cho đặt ống stent. Các nghiên cứu lâm sàng hiện nay cho thấy nong mạch cảnh có tác dụng vượt trội hơn so với điều trị y tế ở bệnh nhân để giảm thiểu các triệu chứng như đau ngực hoặc khó thở. Phẫu thuật tạo hình mạch máu dường như không có lợi ích trong việc giảm tử vong hoặc đau tim. Về mặt lâu dài, sau khi thực hiện thành công phẩu thuật nong mạch vành, bệnh nhân sẽ có thể giảm đáng kể lượng thuốc phải dùng về sau. Tuy nhiên, những nghiên cứu này áp dụng cho những bệnh nhân có triệu chứng ổn định, không dành cho người bị đau tim hoặc không ổn định.
Các thiết bị bổ sung được sử dụng trong chụp động mạch vành hoặc nong mạch vành

 

IVUS

 

IVUS hoặc siêu âm trong lòng mạch là một đầu dò siêu âm thu nhỏ được đặt vào động mạch tim. Công cụ này giúp bác sĩ tim mạch xác định bên trong động mạch tim về mức độ nghiêm trọng của chứng thu hẹp mạch và lượng cholesterol lắng đọng trong thành động mạch. Các kết quả từ IVUS cung cấp thông tin rất cụ thể về đường kính và kích thước của động mạch và cũng được sử dụng để xem liệu ống stent có được đặt đúng chỗ & mở rộng trong động mạch hay không. Một ống stent được đặt cẩn thận và có kích thước phù hợp sẽ làm giảm các biến chứng dài hạn, ngăn ngừa hẹp mạch tái phát và các cục máu đông.

 

DÂY ÁP LỰC

 

Đây là một sợi dây (bằng độ dày của tóc) với đầu dò áp suất thu nhỏ ở đầu. Trong những tình huống nhất định, chứng hẹp bên trong động mạch nhìn có vẻ khó đoán được trên kết quả chụp X-quang. Lúc đó, dây áp lực có thể giúp xác định xem mạch bị hẹp có ảnh hưởng đến lưu lượng máu hay không. Dây này được đặt phía trước điểm thu hẹp trong động mạch và áp lực tại điểm này sẽ được so sánh với một điểm ngoài vị trí thu hẹp trong động mạch. Biên độ giảm huyết áp gần điểm thu hẹp sẽ được đo kỹ lưỡng. Nếu biên độ giảm huyết áp lớn hơn 20%, cần phải cân nhắc làm phẩu thuật nong mạch vành.

 

Những công cụ bổ sung này giúp bác sĩ tim mạch của bạn xác định với độ chính xác cao hơn nếu cần nong mạch vành để thu hẹp trung gian.

 

KHOAN ROTABLATION

 

Một vài điểm thu hẹp có lượng lớn canxi bồi tụ, dẫn đến vị trí hẹp không dễ bị giãn ra bằng bong bóng hoặc ống stent. Trong hầu hết các trường hợp, các bong bóng được sử dụng dưới áp suất cao có thể làm thông suốt các vị trí hẹp như vậy. Tuy nhiên, trong tường hợp canxi lắng đọng quá nhiều, thì cần một thiết bị được gọi là rotablator. Đây là một “mũi khoan” thu nhỏ với đầu kim loại có hình dạng như một quả ôliu và được phủ bằng những viên kim cương nhỏ. Đầu khoan có thể xoay ở tốc độ 160000 vòng / phút và lướt nhẹ nhàng qua vị trí hẹp và biến cặn canxi thành bột mịn. Một khi canxi được lấy ra, ống stent có thể được đặt thành công. Tỷ lệ biến chứng chung của phẫu thuật nong mạch bằng phương pháp rotablation là khoảng 2-3%.

 

Các thiết bị bổ sung được sử dụng trong chụp động mạch vành hoặc nong mạch vành

 

Phẫu thuật tạo hình mạch vành cấp tính hoặc cấp cứu

 

Phẫu thuật tạo hình mạch vành cấp tính khi bệnh nhân bị nhồi máu cơ tim. Thông thường, một cơn đau tim xảy ra cục máu đông nghẽn lại mạch máu bị hẹp từ trước, dẫn đến máu không được dẫn đến cơ tim. Để giảm nguy hiểm cho cơ tim, phẫu thuật tạo hình mạch vành được coi là phương pháp điều trị lý tưởng vì có thể phục hồi lưu lượng máu trong hơn 90% trường hợp và được thực hiện kịp thời. Tỷ lệ phẫu thuật tạo hình mạch vành cấp tính cho các biến chứng nghiêm trọng là từ 5-10%. Các yếu tố như tuổi tác, độ nguy hiểm của cơn đau tim có thể tăng rủi ro trong quá trình phẫu thuật.

 

Bệnh động mạch vành tắc hoàn toàn mãn tính

 

Bệnh động mạch vành tắc hoàn toàn mãn tính hay CTO, là những mạch thu hẹp hoàn toàn bị tắc nghẽn đã xuất hiện lâu. Tắc mạch mãn tính khác với tắc mạch cấp tính. Sự tắc nghẽn trong CTO đôi khi rất có khả năng chống thâm nhập và giãn nở; tỷ lệ phẫu thuật thành công có thể thay đổi từ 50-90%. Một ca phẫu thuật thành công phụ thuộc vào tuổi của CTO, lượng canxi đọng lại trong động mạch, chiều dài của tổng tắc nghẽn và vị trí tắc nghẽn. CTO có thể mất nhiều giờ để khai thông. Thỉnh thoảng, một tia X quang đặc biệt được thực hiện trước khi phẫu thuật mạch có thể đẩy tỷ lệ phẫu thuật CTO thành công.

 

GHÉP TĨNH MẠCH HIỂN

 

Trong phẫu thuật bắc cầu, tĩnh mạch từ chân được sử dụng làm ống mới để cung cấp máu cho cơ tim. Những tĩnh mạch này có thể bị thu hẹp hoặc bị nghẽn sau khi phẫu thuật thành công. Không giống như các động mạch tim, các tĩnh mạch thoái hóa theo thời gian và dễ tích tụ các mô mềm như phô mai trong thành tĩnh mạch. Nếu phẫu thuật nong mạch cho các tĩnh mạch ghép này, nguy cơ cao là những mô mềm này bị bong tróc thành hạt nhỏ hơn và chảy đến các động mạch nhỏ hơn trong các cơ tim gây tắc nghẽn toàn phần. Cần có kỹ thuật đặc biệt và hiệu quả để ngăn chặn dòng chảy xuống của các mô vụn này. Bác sĩ sẽ sử dụng các bộ lọc và bong bóng để bắt các mô vụn trong quá trình phẫu thuật nong mạch và để loại bỏ chúng khỏi cơ thể.

 

Đặt Stent Mạch Cảnh Chính Bên Trái

 

Mạch cảnh bên trái là động mạch chính dẫn đến hai nhánh của động mạch tim. Nếu mạch cảnh trái bị nghẽn, khoảng 2/3 cơ tim sẽ mất nguồn cung cấp máu. Do tầm quan trọng của mạch cảnh bên trái, phẫu thuật bắc cầu là phương pháp điều trị thông thường cho hẹp động mạch loại này. Một phương pháp thay thế khác là phẫu thuật nong mạch. Tuy nhiên, để đảm bảo dòng lưu thông cho cả hai nhánh và quan ngại về biến chứng máu đông, phẫu thuật nong mạch cảnh trái chỉ nên thực hiện sau khi cân nhắc phẫu thuật bắc cầu.

Phẫu thuật hydrid tái tạo mạch máu

PHẪU THUẬT HYDRID TÁI TẠO MẠCH CẢNH

 

PHẪU THUẬT HYDRID TÁI TẠO MẠCH MÁU LÀ GÌ?

 

Đây là một thủ thuật kết hợp cả phẫu thuật bắc cầu xâm lấn tối thiểu với phẫu thuật nong mạch qua da (bằng bóng và stent). Loại phẫu thuật này không mới và đã được thực hiện từ giữa những năm 1990.

 

TẠI SAO KHÔNG PHẪU THUẬT NONG MẠCH CHO TẤT CẢ MẠCH MÁU BỊ NGHẼN?

 

Có ba động mạch chính của tim, bao gồm động mạch giảm dần phía trước bên trái (LAD), động mạch vành phải (RCA) và động mạch vành trái độc nhất (Lcx). Các động mạch LAD chạy xuống phía trước của trái tim và đối với phần lớn môi người, đây là động mạch quan trọng nhất vì nó cung cấp máu cho phần lớn các cơ bắp của buồng tim trái.

 

Các bằng chứng khoa học thu được qua nhiều năm kinh nghiệm cho thấy rằng một số loại cấy ghép được sử dụng trong phẫu thuật bắc cầu có thể tồn tại lâu hơn sử dụng stent. Cá biệt, một mảnh ghép lấy từ xương ngực (được gọi là nội động mạch vú bên trái – LIMA) khi kết nối với LAD của tim sẽ cho ra kết quả lâu dài. Phẫu thuật cấy ghép như vậy cũng được chứng minh là làm tăng tuổi thọ. Tỷ lệ thất bại dự kiến của của ca cấy ghép LIMA với LAD chỉ khoảng 10% sau 10 năm

 

Ống stent có tỷ lệ hẹp mạch tái phát lên tới 20% trong 6 tháng đầu tiên. Ngay cả stent phủ thuốc có tỷ lệ hẹp mạch tái phát tốt nhất cũng chỉ khoảng 5-10% vào năm đầu tiên. Ngoài ra, động mạch bị hẹp mà không có lắp stent sẽ ngàu càng thu hẹp hơn theo thời gian. Ống stent phủ thuốc cũng có một mặt trái là gây ra huyết khối (đột ngột hình thành cục máu đông) có thể xảy ra sau khi đặt ống ban đầu. Tình huống này khá hiếm, xảy ra trong khoảng 0,5-0,6% số bệnh nhân mỗi năm có đặt stent phủ thuốc. Tuy nhiên, một stent trong động mạch LAD có xuất hiện máu đông đột ngột thì sẽ dẫn đến tỷ lệ tử vong cao hơn.

 

PHẪU THUẬT BẮC CẦU TRUYỀN THỐNG – TẠI SAO KHÔNG?

 

Trong khi động mạch LAD nằm trên bề mặt phía trước của tim, hai động mạch kia chạy một vòng về phía sau và đáy tim. Để thực hiện phẫu thuật bắc cầu toàn bộ ba động mạch, bệnh nhân thường được đặt trên một máy tim-phổi nhân tạo và tim sẽ tạm thời ngừng đập. Càng can thiệp hoạt động tự nhiên của tim trong suốt ca mổ thì nguy cơ biến chứng càng cao. Một vấn đề khác được gọi là “pump head” có thể xảy ra khi bệnh nhân được đặt trên các máy tim-phổi nhân tạo. Hiện tượng này có thể dẫn đến mất trí nhớ hoặc hay quên sau ca mổ.

 

Phẫu thuật ghép hai động mạch khác (RCA và Lcx) cũng thường được thực hiện bằng cách sử dụng tĩnh mạch lấy từ chân. Những tĩnh mạch này không mạnh bằng động mạch LIMA, và tỷ lệ tắc nghẽn có thể lên đến 20% trong năm đầu tiên sau phẫu thuật.

 

PHẪU THUẬT HYDRID TÁI TẠO MẠCH MÁU ĐƯỢC THỰC HIỆN NHƯ THẾ NÀO?

 

Hiểu theo cách cơ bản là phẫu thuật tim được tiến hành và động mạch LIMA được ghép vào động mạch LAD. Phẫu thuật này tránh khả năng phải dừng hoạt động tim và cũng tránh được việc phải dùng máy trợ cấp tim phổi. Những can thiệp quá mức lên tim cũng được tránh vì động mạch LAD nằm ở mặt trước của tim. Những vết sẹo sau phẫu thuật này sẽ nhỏ hơn nhiều và không cần lấy tĩnh mạch từ chân

 

Các điểm hẹp mạch xuất hiện ở hai động mạch khác sau đó có thể được chữa bằng phẫu thuật nong mạch vành hậu phẫu. Hiện nay, ống stent phủ thuốc có thể được sử dụng với tỷ lệ tái hẹp mạch thấp. Nếu máu đông hình thành trong các ống stent như vậy, chúng thường sẽ ít nguy hiểm hơn là ống stent đặt ở trong động mạch LAD.

 

AI CẦN PHẪU THUẬT HYDRID TÁI TẠO MẠCH MÁU?

 

Bản thân mỗi phương pháp phẫu thuật bắc cầu hoặc phẫu thuật nong mạch động vẫn được xem là cách xữ lý chính để cải thiện lưu lượng máu trong các động mạch tim bị tắc nghẽn. Phẫu thuật hybrid tái tạo mạch máu chỉ nên được xem xét ở những bệnh nhân mắc loại bệnh tắc nghẽn phù hợp và / hoặc những người có nguy cơ quá cao đối với các phương pháp truyền thống. Phẫu thuật hybrid tái tạo mạch máu đòi hỏi các bác sĩ phẫu thuật và bác sĩ tim mạch phải phối hợp chặt chẽ với nhau; và sự hợp tác này phải được sắp xếp cẩn thận. Ở phần lớn bệnh nhân, phương pháp lại không mang nhiều lợi ích khi mà ngày càng có nhiều nhu cầu đi đôi giữa phẫu thuật và chi phí. Ngoài ra còn có những ưu điểm và nhược điểm cụ thể của phương pháp hydrid này. Bệnh nhân nào đang cân nhắc phương pháp này cần có một cuộc thảo luận cẩn thận với cả bác sĩ phẫu thuật và bác sĩ tim mạch trước khi quyết định được thực hiện.

Heartmate II - Thiết bị hỗ trợ tâm thất trái

 

Suy tim là một bệnh mãn tính có xu hướng ngày càng tệ hơn. Biện pháp dứt khoát điều trị bệnh suy tim là tiến hành ghép tim. Tuy nhiên, luôn có sự thiếu hụt về tim hiến trên toàn thế giới dù lợi ích từ phẫu thuật ghép tim đã được công nhận. Một lựa chọn thay thế khả thi là cấy ghép thiết bị hỗ trợ thất trái, hay còn gọi là trái tim nhân tạo. Thiết bị này có thể đảm nhiệm chức năng của trái tim bị hỏng và giúp cho bệnh nhân một cuộc sống chất lượng hơn.

 

Các đột phá công nghệ đã cho phép cải tiến thiết bị với phiên bản hiện tại là HeartMate II LVAD – đủ nhỏ để cấy vào người lớn có kích thước cơ thể nhỏ nhắn, đặc biệt là phụ nữ và người châu Á. Đây là một thiết bị hướng trục, có vài bộ phận chuyển động, Trong một nghiên cứu ngẫu nhiên gần đây, máy này được chứng minh là vượt trội về độ bền và tỷ lệ biến chứng so với các thế hệ máy cũ hơn. Máy này không gây tiếng trong suốt ca mổ và được cấy vào khoang bụng. Máy heartMate II lý tưởng cho những bệnh nhân bị suy tim, những ai phụ thuộc vào thuốc co bóp hoặc bệnh nhân phải nhập viện thường xuyên do suy tim.